Sản phẩm dưới tay của những người nghệ nhân được đúc tỉ mỉ và những đường nét tinh xảo. hay đền chùa được sử dụng hai vật phẩm này để trưng bày trên ban thờ. Sản phẩm dưới tay của những người nghệ nhân được đúc tỉ mỉ và những đường nét tinh xảo Những nhận định hay về "Vợ nhặt" và nhà văn Kim Lân --- 1. Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với "đất" với "người" với "thuần hậu nguyên thuỷ" của cuộc sống nông thôn. (Nguyên Hồng) 2. "Lắm lúc phương tiện khc c khả năng st thương; đồ vật.bao gồm:- 29 thnh phố: Yn Bi. Thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhn trong một số trường hợp đặc biệt 1.người c nhược điểm về tm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hnh sự 2022.Gim đốc hoặc Tổng gim đốc cng ty l người điều hnh hoạt Nguyễn Tuân và Kim Lân giống như đối trọng, làm phong phú nền văn học hiện đại Việt Nam. Tiến sĩ Chu Văn Sơn cho biết, ông sẽ chuyển các công trình nghiên cứu về Kim Lân cho Nhà lưu niệm của nhà văn. Trang mạng Fulcrum.sg của Singapore đăng bài viết nhận định, Việt Nam Vòng đấu thứ 12 Ligue1 2022-2023, Ajaccio sẽ tiếp đón đương kim vô địch ở mùa giải trước là PSG. Nhìn về nhiều phía cạnh thì PSG đều nhỉnh hơn nhiều so với đội chủ nhà, trận đấu tới dường như khá dễ dàng để họ có 1 chiến thắng trên sân vận động Stade François Coty. Những nhận định hay về tác phẩm "Làng" - Kim Lân sẽ giúp bài văn sâu sắc hơn và đạt điểm cao. Nếu các em muốn thi hay học chuyên văn thì không thể thiếu bỏ ngay vào sổ tay những nhận định hay dưới đây nhé. Bài được sưu tầm từ các trang mạng, tài liệu văn học L8O6APv. Đề bài Nêu Những nhận định về tác phẩm Vợ nhặt 1. Nhận định 1 “Ở truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm mùa xuân 1945.”Bạn đang xem Những nhận định về tác phẩm Vợ nhặt hay nhất 2. Nhận định 2 “ Ở tác phẩm này, nhà ăn chủ yếu hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ.” 3. Nhận định 3 “Ở truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm mùa xuân 1945”. 4. Nhận định 4 “Nhà văn dùng Vợ nhặt để làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”. Dẫn theo Hoài Việt – Nhà văn trong nhà trường Kim Lân, NXB Giáo dục, 1999, 5. Nhận định 5 “Chỉ với ba truyện Vợ Nhặt, Làng, Con chó xấu xí… Kim Lân đã có thể đàng hoàng ngồi vào chiếu trên trong làng văn Việt Nam”. 6. Nhận định 6 “Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với “đất” với “người” với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn.” 7. Nhận định 7 “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”. Kim Lân Ngoài ra, các em có thể cùng tìm hiểu thêm các bài văn mẫu về tác phẩm Vợ nhặt dưới đây nhé! 1. Đề bài 1 Có ý kiến cho rằng “ở truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm mùa xuân 1945. Ý kiến khác thì nhấn mạnh Ở tác phẩm này, nhà văn chủ yếu hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những người dân nghèo sau cái bề ngoài đói khát, xác xơ của họ”. Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên. Bài văn mẫu Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân – một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với “thuần hậu phong thủy” ấy. Ngay sau cách mạng, ông đã bắt tay vào viết ngay tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Khi hòa bình lập lại 1954, nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn Vợ nhặt đã ra đời. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ. Trong một lần phát biểu, Kim Lân từng nói “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”. Và điểm sáng mà nhà văn muốn đem vào tác phẩm chính là ở chỗ đó. Đó chính là tình người và niềm hy vọng về cuộc sống, về tương lai của những con người đang kề cận với cái chết. Bằng cách dẫn truyện, xây dựng lên tình huống “nhặt vợ” tài tình kết hợp với khả năng phân tích diễn biến tâm lý nhân vật thật tinh tế và sử dụng thành công ngôn ngữ nông dân, ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng có sự chọn lọc kỹ lưỡng ấy, nhà văn đã tái hiện lại trước mắt ta một không gian năm đói thật thảm hại, thê lương. Trong đó ngổn ngang những kẻ sống người chết, những bóng ma vật vờ, lặng lẽ, giữa tiếng hờ khóc và tiếng gào thét kinh hoàng của đám quạ. Bằng tấm lòng đôn hậu chân thành nhà văn đã gửi gắm vào trong không gian tối đen như mực ấy những mầm sống đang cố vươn đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêu thương bình dị nhưng rất đỗi cao quý ấy và nhà văn đã để những số phận như anh Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phấp phới cùng đám người đói phá kho thóc Nhật ở cuối thiên truyện. Có thể nói rằng, Kim Lân đã thật xuất sắc khi dựng lên tình huống Nhặt vợ của anh cu Tràng. Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹp trong tâm hồn mình. Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau khi miếng ăn của một người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bồng thêm người này người kia. Trong tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỉ hơn là vị tha và người ta rất dễ đối xử tàn nhẫn, làm cho nhau đau khổ. Nhưng nhà văn Kim Lân lại khám phá ra một điều ngược lại như ở nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Chúng ta từng kinh hãi trước “xác người chết đói ngập đầy đường”, “người lớn xanh xám như những bóng ma”, trước “không khí vẩn lên mùi hôi của rác rưởi và mùi ngây của xác người”, từng ớn lạnh trước “tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết” ấy nhưng lạ thay chúng ta thật không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và cả người vợ của Tràng nữa. Một anh thanh niên của cái xóm cư ngụ ấy như Tràng, một con người – một thân xác vạm vỡ, lực lưỡng mà dường như ngờ nghệch, thô kệch và xấu xí ấy lại chứa đựng biết bao nghĩa tình cao đẹp. “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào”, vậy mà Tràng vẫn đèo bồng thêm một cô vợ trong khi anh không biết cuộc đời phía trước mình ra sao. Tràng đã thực liều lĩnh. Và ngay cô vợ Tràng cũng thế. Hai cái liều ấy gặp nhau kết tụ lại thành một gia đình. Điều ấy thật có lý và xót thương vô cùng. Và dường như lúc ấy, trong con người của Tràng kia đã bật lên niềm sống, một khát vọng yêu thương chân thành. Và dường như hắn đang ngầm chứa đựng một ao ước thiết thực về sự đầm ấm của tình cảm vợ chồng, của hạnh phúc lứa đôi. Hành động của Tràng dù vô tình, không có chủ đích, chỉ tầm phơ tầm phào cho vui nhưng điều ấy cũng hé mở cho ta thấy tình cảm của một con người, biết yêu thương, biết cưu mang, đùm bọc những người đồng cảnh ngộ. Như một lẽ đương nhiên, Tràng đã rất ngỡ ngàng, hắn đã “sờ sợ”, “ngờ ngợ”, “ngỡ ngàng” như không phải nhưng chính tình cảm vợ chồng ấy lại củng cố và nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và sống có trách nhiệm với gia trình trong hắn. Tình nghĩa vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng thay đổi hẳn tâm tính. Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn, Tràng đã sớm trở thành một người chồng thật sự khi đón nhận Hạnh phúc của gia đình. Hạnh phúc ấy như một cái gì đó cứ “ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng”. Tình yêu, hạnh phúc ấy khiến “Trong một lúc Tràng dường như quên đi tất cả, quên cả đói rét đang đeo đuổi, quên cả những tháng ngày đã qua”. Và Tràng đã ước ao hạnh phúc. Mạch sống của một người đàn ông trong Tràng đã trở dậy. Hắn có những thay đổi thật bất ngờ nhưng rất hợp lôgich. Những thay đổi ấy không gì khác ngoài tâm hồn đôn hậu, chất phác và giàu tình yêu thương hay sao? Trong con người của Tràng khi trở dậy sau đó khi chào đón hạnh phúc ấy thật khác lạ. Tràng không là anh Tràng ngày trước nữa mà giờ đây đã là một người con có hiếu, một người chồng đầy trách nhiệm dù chỉ trong ý nghĩ thấy mẹ chồng nàng dâu quét tước nhà cửa, hắn đã bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc, “Hắn thấy hắn yêu thương căn nhà của hắn đến lạ lùng”, “Hắn thấy mình có trách nhiệm hơn với vợ con sau này”. Hắn cũng xăm xăm ra sân dọn dẹp nhà cửa. Hành động, cử chỉ ấy ở Tràng đâu chỉ câu chuyện bình thường mà đó là sự biến chuyển lớn. Chính tình yêu của người vợ, tình mẹ con hòa thuận ấy đã nhen nhóm trong hắn ước vọng về hạnh phúc, niềm tin vào cuộc sống sẽ đổi thay khi hắn nghĩ đến đám người đói và lá cờ đỏ bay phất phới. Rồi số phận, cuộc đời của hắn, của vợ hắn và cả người mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi. Hắn tin thế. Nạn đói ấy không thể ngăn cản được ánh sáng của tình người. Đêm tối ấy rồi sẽ qua đi để đón chờ ánh sáng của cuộc sống tự do đang ở phía trước, trước sức mạnh của cách mạng. Một lần nữa, Kim Lân không ngần ngại gieo rắc hạnh phúc, niềm tin ấy trong các nhân vật của mình. Người vợ nhặt không phải ngẫu nhiên xuất hiện trong thiên truyện. Thị xuất hiện đã làm thay đổi cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo nàn, tăm tối ấy, đã làm cho những khuôn mặt hốc hác, u tối của mọi người rạng rỡ hẳn lên, từ con người chao chát chỏng lỏn đến cô vợ hiền thục, đảm đang là một quá trình biến đổi. Điều gì đã làm thị biến đổi như thế. Đó chính là tình người, là tình thương yêu, thị tuy theo không Tràng về chỉ qua bốn bát bánh đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng ta không khinh miệt thị. Nếu có trách thì chỉ có thể hướng vào xã hội thực dân phong kiến kia bóp nghẹt đời sống con người, thị xuất hiện không tên tuổi, quê quán, trong tư thế “vân vê tà áo dài đã rách bợt”, điệu bộ trông thật thảm hại nhưng chính con người lại gieo mầm sống cho Tràng, làm biến đổi tất cả, từ không khí xóm ngụ cư đến không khí gia đình. Thị đã đem đến một luồng sinh khí mới, nguồn sinh khí ấy chỉ có được khi trong con người thị dung chứa một niềm tin, một ước vọng cao cả vào sự sống, vào tương lai, thị được miêu tả khá ít song đó lại là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm. Thiếu thị Tràng vẫn chỉ là anh Tràng của ngày xưa, bà cụ Tứ vẫn lặng trầm trong đau khổ, cùng cực. Kim Lân cũng thật thành công khi xây dựng nhân vật ấy để góp thêm tiếng lòng ca ngợi sức sống của vẻ đẹp, tình người, niềm tin ở cuộc đời phía trước trong những con người đói khổ ấy. Và thật ngạc nhiên, khó nói về ước vọng ở tương lai, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc đời người ta dễ nghĩ đến tuổi trẻ như Tràng và người vợ nhưng Kim Lân lại khám phá ra một nét độc đáo vô cùng tình cảm, ước vọng ở cuộc đời ấy lại được tập trung miêu tả khá kỹ ở nhân vật bà cụ Tứ. Đến nhân vật này, Kim Lân tỏ rõ ngòi bút vững vàng, già dặn của mình trong bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật. Bà cụ Tứ đến giữa câu chuyện mới xuất hiện nhưng nếu thiếu đi nhân vật này, tác phẩm sẽ không có chiều sâu nhân bản. Đặt nhân vật bà cụ Tứ vào trong tác phẩm, Kim Lân đã cho chúng ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình người trong nạn đói. Bao giờ cũng thế, các nhà văn muốn nhân vật nổi bật, có cá tính của mình thường đặt nhân vật vào một tình thế thật căng thẳng. Ở đó dĩ nhiên phải có sự đấu tranh không ngừng không những giữa các nhân vật mà độc đáo hơn là ngay chính trong nội tâm của nhân vật ấy. Bà cụ Tứ là một điển hình. Việc Tràng lấy vợ đã gây một chấn động lớn trong tâm thức người mẹ nghèo vốn thương con ấy. Bà ngạc nhiên ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một người đàn bà trong nhà mình mà lâu nay và có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến. Hết ngỡ ngàng, ngạc nhiên và cụ đã “cúi đầu nín lặng”. Cử chỉ hành động ấy chất chứa bao tâm trạng. Đó là sự đan xen lẫn lộn giữa nỗi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi buồn cứ hòa lẫn vào nhau khiến bà thật căng thẳng. Sau khi thấu hiểu mọi điều bà nhìn cô con dâu đang “vân vê tà áo đã rách bợt” mà “lòng đầy thương xót”. Bà thiết nghĩ “Người ta có gặp bước khó khăn này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”. Và thật xúc động, bà cụ đã nói, chỉ một câu thôi nhưng sâu xa và có ý nghĩa vô cùng “Thôi, chúng mày phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”. Đói khổ đang vây lấy gia đình bà, cuộc sống của bà sẽ ra sao khi mình đang ngấp nghé trước vực thẳm của cái chết. Nhưng trong tâm thức người mẹ nghèo ấy, đói khổ không phải là vật cản lớn nữa. Đói rét thật nhưng trong lòng bà cụ vẫn sáng lên tấm lòng yêu thương chân thành. Bà thương con, thương dâu và thương cho chính bản thân mình. Bà cụ Tứ từ những nỗi lo, nỗi tủi cực về gia cảnh vẫn không bùng cháy lên ngọn lửa của tình người. Bà đã giang tay đón nhận đứa con dâu, lòng đầy thương xót, trong tủi cực nhưng vẫn ngầm chứa một sức sống thật mãnh liệt. Chính ở người mẹ nghèo khổ ấy, ngọn lửa của tình người, tình thương yêu nhân loại ấy bùng cháy mạnh mẽ nhất. Trong bóng tối của đói nghèo đang hùng hổ vây quanh, bà lão vẫn gieo vào lòng những con niềm tin về cuộc sống. Bà nhắc đến việc Tràng nên chuẩn bị một cái phên nuôi gà, rồi việc sinh con đẻ cái, bà lão nói toàn chuyện vui trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại ấy. Bà đã đón nhận hạnh phúc của các con để tự sưởi ấm lòng mình. Đặc biệt, chi tiết nồi chè cám ở cuối thiên truyện thể hiện khá rõ ánh sáng của tình người, nồi chè cám nghẹn ứ cổ và đắng chát ấy lại là món quà của một tấm lòng đôn hậu chất chứa yêu thương. Bà lão “lễ mễ” bưng nồi chè và vui vẻ giới thiệu “Chè khoán đây – ngon đáo để cơ”. Ở đây nụ cười đã xen lẫn nước mắt. Bữa cơm gia đình ngày đói ở cuối thiên truyện không khỏi làm chạnh lòng chúng ta, một nỗi xót thương cay đắng cho số phận của họ song cũng dung chứa một sự cảm phục lớn ở những con người bình thường và đáng quý ấy. Kim Lân bằng nghệ thuật viết văn già dặn, vững vàng đã đem đến một chủ đề mới trong đề tài về nạn đói. Nhà văn đã khẳng định ánh sáng của tình người thật thành công ở ba nhân vật. Điều làm chúng ta trân trọng nhất chính là vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống một cách mạnh mẽ nhất ở những thân phận nghèo đói, thảm hại kia. Ba nhân vật Tràng, vợ Tràng và cụ Tứ cùng những tình cảm, lẽ sống cao đẹp của họ chính là những điểm sáng mà Kim Lân từng trăn trở trong thời gian dài để thể hiện sao cho độc đáo một đề tài không mới. Tác phẩm đã thể hiện thành công nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, khả năng dựng truyện và dẫn truyện của Kim Lân – một nhà văn được đánh giá là viết ít, nhưng tác phẩm nào cũng có giá trị là vì lẽ đó. “Cái đẹp cứu vớt con người” Vâng, Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kỳ diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm, ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy. 2. Đề bài 2 Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống” qua tác phẩm Vợ nhặt Bài văn mẫu Nhắc đến năm 1945, hẳn chúng ta nhớ ngay đến sự kiện lịch sử trọng đại và niềm vui của ngày khai sinh đất nước. Nhưng cũng xót xa nhớ về những đồng bào đã ra đi trong nạn đói khủng khiếp năm ấy. Trong truyện ngắn Vợ nhặt Kim Lân đã chọn bối cảnh những ngày cái đói bủa vây con người, nhưng ông không trực tiếp viết về cái đói đã cướp đi hơn hai triệu đồng bào. Ông viết về những người đói, nhưng “họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống” với niềm tin không bao giờ tắt hướng về con người và ước muốn sự sống sẽ được gieo mầm từ cái chết. Như nhiều tác phẩm trước đó viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành nhiều trang viết mô tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bây giờ – người chết đói như ngả rạ – mà chủ tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xơ xác vì đói khát của những người nghèo khổ – tên Tràng – độc thân, chỉ với mấy câu “hò chơi cho đỡ nhọc”, đã có được cô “vợ nhặt” – đang sống dở, chết dở vì đói. Họ thành vợ thành chồng giữa cái cảnh “tối sầm lại vì đói khát”. Đêm tân hôn của họ âm thầm trong bóng tối, giữa tiếng hờ khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió đưa lại. Bữa cơm cưới của đôi vợ chồng trẻ và người mẹ già chỉ có cháo loãng, muối hột, nhưng ăn uống rất ngon lành, trong hồi trống thúc thuế. Ba mẹ con vừa ăn cơm. vừa bàn chuyện Việt Minh phá kho thóc chia cho dân nghèo. “Trong óc Tràng, vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. ảnh Đọc tác phẩm Vợ nhặt. Ngay từ đầu, câu chuyện đã hiện lên đượm màu sắc tang thương tử khí “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngã rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Thực không còn gì ảm đạm hơn bức tranh quê ấy. Trong khi trước đó không lâu, mỗi chiều Tràng đi làm về, “cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy lại xôn xao lên được một lúc” còn bây giờ, cái đói đã đè nặng lên vai mỗi người; ngay cả bọn trẻ – những đứa bé hồn nhiên, vô tư nhất cũng mất đi sự tự nhiên, ngây thơ của mình, chúng ủ rủ, không buồn nhúc nhích… “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều, người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa” Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để tiếp nối sự sống. Giọng văn lúc này thật dồn nén và gây cảm xúc mạnh, mộc mạc mà lôi cuốn “Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường”. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt hắn thì sáng lên lấp lánh”. Đọc đến đây, ta không thể không nghỉ đến những trang bi kịch của Sexpia, Molie hay Stăng-đan. Tuy nhiên, bi kịch ở đây đã vượt lên sự thông thường vẫn có; nó cũng không phải là “hiện thân của sự ngu đốt” như Mác nói, mà trở nên sự cao cả “đẹp tươi lạ thường”. Đó là biểu hiện cao nhất của sự chiến thắng, vượt lên trên thực tại chết chóc, đen tối để hướng tới sự sống, niềm tin, ánh sáng. Với chi tiết Tràng cùng vợ đi về nhà, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước nhà cũng có thêm một tiếng nói mới, có sức mạnh. Chuyện lấy vợ của Tràng, trước hết là một truyện lạ mà thú vị. Điều ấy đã khiến người dân ở xóm ngụ cư hết sức tò mò, từ bọn trẻ con cho đến tất cả người làng “Họ bàn tán.. họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng dạng dỡ hẳn lên”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn những người dân làng, le lói lên một chút niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ. Có thể nói trong phút chốc khi Tràng cùng với cô “Vợ nhặt” đi về làng, cái chết, sự ảm đạm âm u nơi xóm ngụ cư được đẩy sang một bên. Xóm ngụ cư đang ở trên miệng vực cái chết, bỗng hé lên một thoáng sống. Nhưng, niềm vui vừa đến, đã phải nhường chỗ cho sự âu lo. Dân làng lo thay cho Tràng “Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau, sống qua được cái thì này không”. Tuy nhiên, đó không phải là nổi lo tuyệt vọng, mà là lo cho cái sống. Sự chết chóc cứ ám ảnh, đe doạ sự sống, nhưng sự sống vẫn vượt lên trên cái chết. Khuôn mặt “rạng rỡ” của người dân làng, ánh mắt của họ thực ý nghĩa, nói với chúng ta bao điều. Ở bước đường cùng, người ta sinh ra liều lĩnh – điều đó thực đúng lắm thay!. Hành động nhân đùa làm thật của cô gái theo chân Tràng vô nhà, xét đến cùng, là một hành động liều lĩnh. Tràng gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào các dịp chở thóc lên tỉnh. Với Tràng chị ta chẳng để lại trong anh một ấn tượng gì. Bởi thế, lần thứ hai gặp lại, Tràng phải mất một thời gian mới nhận ra và cũng như nhiều nhân vật khác trong các sáng tác của Nam Cao, cái dạ dày chị đã chiến thắng khối óc và con tim được Tràng đãi, chị ăn liền một chập bốn bát bánh đúc. Cái đói đã đẩy lùi ý thức nhân cách, sĩ diện. Quên cả thẹn thùng, người đàn bà không tên ấy cắm đầu ăn “không chuyện trò gì”. Khi Tràng ngỏ lời, không cần suy nghĩ, chị cũng đi theo một cách dễ dàng, “vô tư lự”. Thế mới hay, cái đói ghê gớm biết chừng nào. Và hai cái “liều” gặp nhau đã tạo nên ” gia đình thời tao loạn. Điều đáng chú ý là ở đây. khi cùng người “Vợ nhặt” về nhà, Tràng đã bỏ ra hai hào để mua một chai dầu, điều này có nghĩa là anh đã thắp lên một ngọn lửa trong cuộc sống tăm tối của mình, đem lại chút ánh sáng cho gia đình cũng như dân làng. Điều này chi phối toàn bộ văn phẩm. Cũng từ cuộc “hôn nhân” của Tràng, những người đời mới thực sự không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống. Khi Tràng cùng vợ về nhà, cuộc sống trước mất của họ không kém phần thảm hại căn nhà vắng teo, rúm ró; niêu bát, áo xống bừa bộn… Ôi, lấy vợ cưới chồng, yên bề gia thất! Việc lớn một đời, hạnh phúc trăm năm! Vậy mà, họ bị vây bởi sự nghèo đói chết sự sống là bất diệt, chẳng bao giờ chán nản. Trong cái chết, sự sống vẫn tồn tại, tìm chỗ sinh sôi nảy nở. Tất cả thật dữ dội, mà ý nghĩa thì lớn lao sự sống luôn tồn tại, bất chấp cái chết.. Việc hai người xa lạ bỗng gắn bó với nhau trong cơn đói kém, chứng tỏ quyết tâm nghĩ đến cái sống của hai người, đem lại cho họ trước hết là Tràng một niềm vui lớn lao. Trong truyện ngắn, hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng, khi đã có vợ. Tình yêu của hai người, có sức cải biến thật lớn. “Trong một lúc, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe doạ…Trong lòng hắn, lúc này chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…”. Đúng vậy. Niềm vui lớn nhất đời anh đã thành sự thực có vợ. Cái “mới mẻ”, “lạ lẫm” ấy là tinh thần trách nhiệm của một người chủ gia đình sẽ phải lèo lái con thuyền nhà – gia đình qua thời điểm khó khăn, vươn lên hoàn cảnh khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống. Tràng bỏ sau lưng tất cả những tiếng hờ khóc, tiếng quạ kêu… Chỉ sau một đêm “nên vợ, nên chồng”, Tràng thấy mình có sự đổi khác “Trong người êm ái lửng lơ như người ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn ngỡ như không phải…”. Chuyện được “vợ nhặt” của Tràng ngỡ như đùa nhưng lại là sự thật; bao nhiêu sự sống, sinh khí trở lại với Tràng, với gia đình sau khi anh có vợ. Và cũng từ buổi “sáng hôm sau đó”, dường như tất cả sự chết chóc không còn tồn tại nữa, Tràng chỉ nghĩ đến sự gây dựng cuộc sống, hướng về sự sống mà tạo lập hạnh phúc “Tràng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa, che nắng. Một nguồn vui sướng, -phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này”… Có thể nói, đó là biểu hiện cao nhât của tinh thần hướng về sự sống, quên đi cái chết đang bủa vây. Vợ Tràng là một nhân vật khá độc đáo. Chị không có tên, không tuổi, không đặc điểm nhận dạng và quê quán. Tưởng rằng, khi chị theo Tràng đi về nhà, với sự chao chát, chỏng lỏn, văn học Việt Nam lại có thêm một nhân vật “khônng bình thường”! Nhưng không, ngòi bút Kim Lân chưa bao giờ để nhân vật cùa mình bị tha hoá, biến chất đến độ ấy. Khi về đến nhà Tràng, con người thật của chị mới hiện lên đầy đủ. Chị cứ “ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khí cái thúng”. Vì sao vậy? Cái thế ngồi rụt rè, chông chênh ấy cũng là cái thế của lòng chị, trăm mối ngổn ngang. Liệu chỗ ngồi ấy có phải là chỗ ngồi của chị không? Nhà này có phải chốn để chị dung thân? Và cũng như Tràng, sau một đêm làm vợ, chị đã thay đổi hẳn “trông chị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiển hậu, đúng mực…” Cái đói một khi được xua đi, thì sự tốt đẹp đúng như bản chất liền trở lại với chị, ấy cũng là lúc chị nghĩ đến cuộc sống, lo cho gia đình mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang… Có bàn tay săn sóc của chị, căn nhà trở nên gọn gàng sáng sủa. Sự sống trở về với người với cảnh… Bà cụ Tứ càng để lại cho người đọc những thiện cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi, thương xót “Chao ôi, người la dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này. Còn mình thì…”. Nhưng, bà thực sự vui mừng khi con trai bà đã yên bề gia thất “Bà lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên…”. Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng đến một tương lai tươi đẹp hơn “Tràng ạ. Khi nào có liền ta mua lấy đôi gà. Tau tin rằng cái chỗ đầu bên kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảng đi ngoảng lại, chà mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…” Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đấy. Bà cố gắng xua thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên món chè cám đã nhắc họ về với thực tại. Chao ôi, chè cám! Phải đói đến một mức nào đó, người ta ăn cám mới cảm thấy ngon! Cuộc sống khắc nghiệt, đày đoạ, bắt họ phải sống cuộc sống loài vật, nhưng nào có dập tắt được phần người đáng quý trong mỗi con người. Cái phần người ấy sẽ giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này. Sẽ lại thiếu sót nếu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc, khi nói đến những kẻ hấp hối trong vòng tử địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào, được nhà văn chuẩn bị từ trước. Nó là dấu hiệu của “bước đường cùng”, không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đâu tranh, hướng tới một cuộc sống tốt hơn. Tràng thấy “ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu” bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này, sự sống trở thành mục chung của mọi người; họ đấu tranh, đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn, mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia, giành sự sống cho mình. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đẫm chất nhân văn cao cả đã trở thành một tác phẩm xuất sắc của nền văn học cách mạng. Hiểu và cảm thông tận cùng người với người nghèo khổ ông xứng đáng là nhà văn của nông thôn và người nông dân. Vợ nhặt đã ươm được mầm sống, nó vươn lên từ cái chết. Tác phẩm sẽ còn mãi trong lòng người đọc như một bài ca về khái vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam. Đăng bởi Sài Gòn Tiếp Thị Chuyên mục Lớp 12, Ngữ Văn 12 I. Tìm hiểu chung Tác giả – Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, 1920-2007, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. – Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng …Truyện ngắn “làng” của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp? Dàn ý. I. Mở bài – Kim Lân … Ca sĩ Lân Nhã nói bà xã không ghen tuông, quán xuyến việc nhà để anh thăng hoa trong âm nhạc. Lân Nhã sẽ góp mặt trong đêm nhạc In the Mirror - Gương thần số thứ hai, diễn ra vào ngày 2/7 ở Hà Nội. Dịp này, ca sĩ chia sẻ về công việc và cuộc Từ Vietnam Idol 2010 đến nay, anh thấy bản thân thay đổi ra sao?- Sau 12 năm, sự hồn nhiên chắc chắn không còn. Tuy nhiên, sự chân thành, tình yêu của bản thân dành cho âm nhạc là vẹn nguyên. Điều đó rất quan trọng. Khi giữ được nhiệt huyết trong âm nhạc sẽ giúp ích rất nhiều cho sự nghiệp của đổi lớn nhất là khi lập gia đình và có con - những cột mốc giúp tôi trưởng thành hơn trong nghề. Mỗi ngày khi nhìn vào vợ con, người thân xung quanh, có nhiều vấn đề mình cần phải suy nghĩ, trăn trở. Từ đó, tôi nhìn cuộc sống khác so với trước đây. Tôi phải trưởng thành mỗi ngày để làm gương nuôi dạy con. Tôi thấy may mắn khi những thay đổi đó giúp mình tinh tế hơn, thu nạp được nhiều tư liệu để đưa vào trong tác phẩm. Nhờ vậy, khi thể hiện bài hát, cảm xúc, hơi thở của tôi cũng khác đi. Lân Nhã tại buổi phỏng vấn trước thềm show "In the Mirror". Ảnh Giang Huy - Theo đuổi dòng nhạc xưa, anh có thể chịu áp lực lớn từ những giọng ca gạo cội như Tuấn Ngọc, Quang Dũng... Anh làm sao để thoát khỏi bóng của người đi trước? - Lúc trước khi bị so sánh tôi rất buồn. Nhưng nhìn lại, đúng là tôi cũng có ảnh hưởng, những nét rất giống họ. Thực ra chuyện này rất bình thường bởi khi thần tượng ai đó, vô hình trong đầu mình bị ảnh hưởng bởi phong cách, hình ảnh của họ. Dần dần, tôi cảm thấy chuyện so sánh là bình thường, thoải mái hơn với suy nghĩ, cá tính, cách nhìn không cần phải gồng để khác đi, mà tự tin thể hiện phù hợp với con người, hơi thở, cách hát của bản thân. Tôi chỉ cố gắng sao cho mỗi tác phẩm đều chỉnh chu, cảm xúc hơn. Tôi nhận ra rằng với con đường âm nhạc đã chọn, chỉ cần hát với tâm thế bình thản sẽ cho ra những giá trị đúng như mình suy nghĩ. - Nhiều người nói giọng anh hay, trầm ấm, có độ sâu nhưng một màu, ít biến hóa. Anh nghĩ sao về nhận định này?- Một người nghệ sĩ may mắn được công chúng biết đến, sẽ luôn có những ý kiến đánh giá trái chiều và tôi tôn trọng điều đó. Quan trọng là với con đường đã chọn, mình có theo đuổi đến cùng không. Hiện tại, tôi rất hài lòng với con đường âm nhạc của mình và đang chăm chút cho nó rất nhiều. Thi thoảng, tôi cũng hát vài ca khúc thể loại khác nhưng chỉ để cho vui thôi. Tôi muốn tập trung vào chuyện của mình thôi, không lăn tăn về những thứ khác. Tôi biết mình yêu cái gì và khán giả của mình cần những Đi hát đã lâu, dù được yêu mến nhưng anh ít có bản hit riêng, đa số là cover. Anh trăn trở về điều này như thế nào?- Tôi vẫn luôn trăn trở câu hỏi này. Thực ra, tôi cũng có bài hát riêng nhưng chưa may mắn được nhiều người biết tới, trong khi đa số những bài nổi tiếng là cover. Nhiều người hỏi tôi rằng 'Sao không đặt bài?', 'Sao không mua ca khúc mới?'. Không phải tôi không làm, chẳng qua là chưa tìm được tác phẩm phù hợp. Tôi cũng nhận được nhiều bài hát do tác giả gửi và thực sự thấy biết ơn. Tuy nhiên, tôi chưa có duyên với nó. Bởi vậy, tôi muốn có bản hit nhưng vẫn phải đợi. Nhiều khi ca khúc nghệ sĩ thích chưa chắc đã hit và ngược lại. Tôi tin là đến một lúc nào đó, khi mọi thứ đủ chín sẽ cho thành quả ngọt Là một trong những giọng ca có tần suất chạy show lớn, thu nhập từ ca hát hiện đáp ứng cuộc sống của anh thế nào?- Rất cảm ơn khán giả vì nhờ có họ, đời sống kinh tế của tôi khá hơn lúc trước rất nhiều. Tôi từng phải giải nghệ, đi lồng tiếng phim vì không thể sống được với nghề. Hiện tại, có thể so với người khác không là gì nhưng tôi và gia đình thấy rất thoải mái. Tôi vẫn cứ chăm chỉ làm việc, cống hiến. Tôi có nhiều dự định mới trong đầu nhưng chưa bắt tay làm được. Tôi đang cố gắng biến nó thành hiện thực trong thời gian sớm Anh thường cân đối công việc và gia đình ra sao?- Thật khó để một người nghệ sĩ có thể vẹn toàn được cả công việc và gia đình. Lịch trình công việc bận rộn, ngoài ra có rất nhiều việc không tên nên người thân của tôi sẽ rất thiệt thòi. Nhiều lúc tôi không thể chăm sóc họ tới nơi tới chốn. Tôi may mắn vì có vợ lo toan hết việc nhà, quản lý lo công việc hậu trường, bản thân chỉ việc đi hát, đứng trên sân khấu, làm những việc nghệ sĩ phải độc thân, lúc rảnh tôi đi bù khú, uống bia với bạn bè. Bây giờ, có thời gian, tôi chỉ quanh quẩn bên gia đình thôi. Có thể nhiều người cảm thấy đơn điệu, nhưng với tôi chỉ vậy là Vợ anh giúp chồng cáng đáng công việc như thế nào mỗi khi anh đi vắng? Anh thường làm gì để bù đắp cho cô ấy?- Vợ tôi thích chồng bận rộn vì như vậy cuối tháng sẽ vui cười. Tôi may mắn có vợ hiểu và thông cảm cho công việc rất nhiều. Cô ấy không ghen khi thấy tôi chụp hình với fan nữ hay đứng chung sân khấu với nghệ sĩ nữ. Hoặc ghen nhưng kín đáo mà tôi không biết cười. Nói chung cô ấy tạo mọi điều kiện để tôi thăng hoa trong sự chấm điểm, cô ấy chiếm khoảng 60% thành công trong sự nghiệp của tôi, phần còn lại là do bản thân cố gắng, những thành viên trong êkíp và gia đình. Về phía tôi, thi thoảng tôi chỉ phụ giúp vợ rửa bát, phơi đồ, chơi với con... toàn những việc nhỏ nhặt Định hướng nghệ thuật của anh trong thời gian tới?- Tôi có rất nhiều ấp ủ, chỉ là hiện tại chưa có thời gian, điều kiện để làm. Tôi mong trong thời gian tới sẽ có một liveshow lớn. Năm 2019, tôi có một liveshow chung với Uyên Linh, nhưng sau này tôi muốn có chương trình của riêng mình. Ngoài ra, cố gắng ra album mới để mang tới cho khán giả những sản phẩm âm nhạc chất lượng. Lân Nhã cười khi nhắc đến vợ. Cả hai gắn bó tám năm qua, có hai con - một gái, một trai. Ảnh Giang Huy In the Mirror - Gương thần là chuỗi chương trình âm nhạc do báo VnExpress, công ty FPT Online và chuyên trang Ngôi sao tổ chức. Đây là không gian gặp gỡ, giao lưu của những ca sĩ được nhiều người mến mộ, nơi họ kể về con đường âm nhạc, trình diễn những ca khúc đã làm nên tên tuổi và khám phá năng lực nghệ thuật khác. Số thứ hai có sự tham gia của hai giọng ca cùng bước ra từ cuộc thi Vietnam Idol 2010 - Văn Mai Hương và Lân Nhã. Giám đốc âm nhạc - nhạc sĩ Huy Tuấn, ban nhạc Anh Em sẽ cùng các ca sĩ mang đến một câu chuyện âm nhạc đầy màu sắc với ý tưởng concept mới mẻ. Qua chiếc "Gương thần", nghệ sĩ tái hiện hành trình làm nghề của họ với những cột mốc đẹp đẽ nhất. Các ca sĩ cũng sẽ phải soi mình trong một chiếc gương khác - "Gương thầm", nơi họ giới thiệu thêm cho khán giả những góc nhìn khác, những điều thì thầm từ nội tâm, những mảng màu cá tính mà ít khi có dịp giới thiệu tới công chúng. Show nhạc diễn ra ở khu đô thị Park City Lê Trọng Tấn, Hà Đông vào ngày 2/7. Chương trình có 500 khán giả theo dõi tại chỗ, đồng thời phát trực tiếp và phát lại trên nền tảng eBox. Độc giả có thể mua vé tại đây. Số đầu tiên lên sóng ngày 19/1 với sự tham gia của Tùng Dương và Bùi Anh Tuấn. Hai nam ca sĩ đã có màn hoán đổi hit, Tùng Dương hát Nơi tình yêu bắt đầu còn Bùi Anh Tuấn thể hiện ca khúc Quê nhà. Hiểu Nhân Terms in this set 6Nguyễn KhảiĐó là thần viết, thần mượn tay người để viết lên những trang sách bất hủPhong LêNhà văn kim lân chỉ viết những gì mình thuộc, không tuyên ngôn, không phô trương ồn ào mà chỉ muốn là người viết khiêm nhườngTrần Ninh HồNếu như cho rằng văn chương là lịch sử tâm trạng con người thì Kim Lân quả là nhà văn đích thực trên ý nghĩa ngữQuý hồ tinh bất quý hồ đaNguyên HồngÔng là nhà văn một lòng đi về với đất với người với cái thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thônHọa sĩ Nguyễn Thị HiềnSinh thời thầy tôi mang nhiều mặc cảm

nhận định về kim lân